Phối hợp màu sắc trong nhiếp ảnh (phần 11 – Hết)


– Màu của đô thị:

Môi trường đô thị, được xây dựng bởi con người, có màu sắc của riêng nó. Đó là một phông nền không bão hòa, trên đó nổi bật lên các màu nhân tạo, được điểm xuyết bằng các bảng quảng cáo. Các chốn đô thị (ngoại trừ các công viên, vườn cây với mục đích làm nhẹ bớt tính đô thị) có một gam màu đặc biệt mà một vài màu mang tính phổ biến cho hầu hết các thành phố. Nếu ta chụp hình thành phố và muốn khai thác màu sắc thì sẽ tìm thấy các sắc màu rất thú vị.

Màu sắc chủ yếu từ các vật liệu xây dựng, chúng có khuynh hướng thống nhất trên toàn thế giới. Trong các đô thị hiện đại thì màu xám chiếm lĩnh, là màu của bê tông, nhựa đường, đá và kim loại. Ngay các cửa kính dùng ở các diện tích lớn có tác dụng làm tăng cường màu xám vì phản chiếu lại môi trường xung quanh, nhất là những ngày có mây phủ do làm giảm độ tương phản. Vấn đề là do ta cảm giác chúng buồn tẻ, lạnh nhạt hay như Wiliam Eggleston, thấy chúng phong phú một cách tinh tế.

Các thành phố cổ, nhất là khu trung tâm, nơi các công trình cũ được bảo tồn, có khuynh hướng hơi khác biệt vì được sử dụng vật liệu đặc trưng. Ví dụ trung tâm làng đại học Oxford có nhiều công trình được xây bằng đá vôi địa phương, có sắc màu biến đổi từ xám beige ngả sang màu cam khi có ráng nắng chiều . Các khu phố cổ trong các đô thị thuộc địa cũ như singapour tràn đầy các ngôi nhà đựợc sơn màu nóng dưới bóng râm của tán cây, chúng cho ra một “clair-obscur”* rất đặc trưng có độ tương phản cao giữa các sắc trắng, đen và xanh lá cây.

Các ánh màu rực rỡ của bảng quảng cáo, các cửa hiệu, bảng hiệu, có mặt khắp nơi, cùng với ánh đèn xe cộ chúng hoàn toàn đối lập với màu xám tổng thể của thành phố. Tất cả các yếu tố đó rất thu hút do màu sắc phong phú. Khi màn đêm buông xuống ở trung tâm đô thị, độ tương phản trở nên rất mạnh. Nói về độ bão hòa màu sắc thì các cảnh đô thị rất sống động lúc hoàng hôn.

(* chú thích “clair-obscur”: Trong một khung cảnh trong bóng tối có những vệt ánh sáng rất tương phản. Đó cũng là một danh từ chỉ một phong cách hội họa, ví dụ clair-obscur của Rembrandt. Các bác nào chuyên về chân dung sẽ biết cách chiếu sáng “clair-obscur Rembrandt” với cái vệt tam giác ánh sáng nổi tiếng trên gò má của người mẫu (xuất xứ từ bức chân dung tự họa nổi tiếng của họa sĩ), xin lỗi các bác vì tôi không biết dùng từ tiếng Việt nào để thay thế.)


Cây cầu ở trung tâm Tokyo gần Ochanomizu chụp lúc tối, ánh sáng “clair-obscur” là điển hình, ở đây chúng được tăng cường bằng ánh phản chiếu xuống mặt nước. Bình thường khi ta chụp cảnh buổi tối sẽ gặp vấn đề phải giữ lại được hình thể (forme), ở đây cây cầu đóng vai trò đó.


Màu xám đặc trưng của thành phố là một chủ đề hay của nhiếp ảnh. Một cây cầu băng qua nhà ga Liverpool Street ở Luân đôn được chụp từ rất xa bằng ống tele xuyên qua bụi mù của thành phố, biến đổi thành một bức ảnh đơn sắc


Một công trình được bọc kính mặt tiền ở Phoenix Arizona. Các bóng phản chiếu là cơ hội để chụp cận cảnh, với một ống kính wide

– Màu trong tĩnh vật:

Tĩnh vật là thể loại lí tưởng để sắp xếp một tấm ảnh, thay vì để chúng một cách tình cờ. Các màu sắc được chọn và làm việc một cách tùy ý. Paul Outerbridge, một trong những nhiếp ảnh gia chuyên về tĩnh vật màu đầu tiên đã viết năm 1940 là thể loại này có rất nhiều khả năng cho: “các công việc hoàn toàn mang tính sáng tạo của nhiếp ảnh màu”. Điều đó không có gì bất ngờ, cho những ai muốn làm chủ hoàn toàn tình thế giống như các họa sĩ làm việc từ trước đến nay. Sau Outerbridge, theo một loại các nhiếp ảnh gia với các phong cánh riêng biệt: tự do, chừng mực, chín chắn như Irving Penn, Hiro (Wakabayashi Yasuhiro), Henry Sandbank và Lester Bookbinder.

Không phải một sự trùng hợp nếu công việc của họ đã làm kết nối giữa thẩm mỹ sáng tạo với thương mại. Quảng cáo và thời trang đặc biệt cần thể loại tĩnh vật để giới thiệu sản phẩm và thể hiện các concept một cách được kiểm soát chi li. Đó là phản đề của loại nhiếp ảnh mang tính tự nhiên, không có bất cứ gì mang tính tình cờ. Một cách tuyệt đối tất cả được “nhập khẩu” vô khung ảnh, bất cứ một lỗi nhỏ nhất là do trách nhiệm của người chụp. Điều đó ảnh hưởng tới màu sắc cũng như các yếu tố khác. Đó cũng giống như trong hội họa. Khác với hội họa được tự do chọn pha trộn màu sắc, trong nhiép ảnh thì màu sắc đã có sẵn trước khi chụp, nhưng trong thể loại này ta có thể chọn lựa rất chính xác. Trong tay của một người như Irving Penn, một đơn đặt hàng thương mại có thể trở thành một tác phẩm nghệ thuật.

Việc lựa chọn bảng màu là do người chụp, màu sắc trong tĩnh vật rất đa dạng nhưng sự chính xác và chọn lựa là hiển nhiên trong một bức ảnh suy nghĩ kĩ càng. Rất nhiều nhiếp ảnh gia bị thu hút bởi tính đơn giản và chừng mực là những cái đòi hỏi một sự chính xác tuyệt đối cho các màu trung tính và các sắc màu tinh tế, bây giờ điều đó dễ dàng hơn nhiều với ảnh KTS. Người khác thì chọn làm việc với các màu rực rỡ hiếm gặp trong cuộc sống hàng ngày.


Cho bức ảnh một đóa hoa tulipe này, người giám đốc nghệ thuật đã xé các băng giấy màu và bố trí sao cho các màu đó như tiếp tục phát triển ra từ cánh hoa


Sự tinh khiết của ly cocktail cổ điển làm nó là một subject không màu, sự trang trí trung tính là một khả năng. Ở đây, trong một khách sạn chuyển đổi từ ngôi thành cổ Râjasthâni , các cửa sổ kiếng màu truyền thống tạo thành một trang trí độc đáo


Chủ đề là 2 chai thủy tinh và ở đây được xử lý theo trừu tượng. Chúng trở thành các hình thể màu sắc với các đường nét đơn giản. Để làm tăng giá trị cái bên trái, cái kia được đổ đầy nước màu xanh và các bọt khí làm ảnh sống động thêm

– Sửa đổi màu có chọn lọc:

Dùng các lệnh biến đổi màu trong photoshop cho những màu được chọn lựa, ta có thể tạo nên hài hòa màu sắc cho bức ảnh . Để hình ảnh vẫn giữ được tính tự nhiên, không bị giả tạo, ta cần sử dụng chúng một cách tinh tế, không nên lạm dụng. Ở đây, công cụ được dùng là những công cụ có thể chọn được một màu nhất định trong ảnh để sửa đổi. Có 2 lệnh hay được dùng:

– Trong menu của Photoshop>chọn Image> Réglages (dòng thứ 2 từ trên xuống)>Remplacer la couleur (dòng thứ 11-replace color? xin lỗi vì tôi dùng photoshop tiếng Pháp). Sau đó ta click chọn cái công cụ pipette để chọn màu cần biến đổi trong ảnh, ta có thể di chuyển con trỏ “tolérence” ngay bên dưới để mở rộng hay thu hẹp vùng được chọn. Sau khi đã chọn xong thì có thể biến đổi màu đó bằng 3 thông số hue (sắc màu), saturation (độ bão hòa), lightness (cường độ sáng). Tất cả những biến đổi chỉ ảnh hưởng đến màu được chọn mà không ảnh hường đến các màu khác.
– Trong menu Photoshop>Image>Réglages> Hue/Saturation (ctr+U). Sau đó chọn trong phần edit màu cần sửa đổi (Toàn bộ, đỏ, vàng, xanh lá cây,cyan, xanh dương, magenta), có thể dùng pipette để chọn màu chính xác hơn. Sau khi đã chọn màu thì cũng như lệnh trên ta có thể biến đổi Hue, Saturation và lightness.

Trong ví dụ dưới đây, một cái bể bơi được thiết kế từ 3 màu cơ bản nhưng khi chụp do ánh sáng đèn huỳnh quang đã làm giảm các sắc màu và cho một tông xanh lá cây. Mục tiêu của việc chỉnh màu trong photoshop là tăng độ bão hòa các màu cơ bản và làm mất đi tông xanh lá cây. Nhờ lệnh Hue/saturation, qua pipette, ta có thể chọn chính xác lần lượt màu đỏ và màu vàng để làm chúng tươi lên bằng cách tăng saturation (thực ra màu xanh dương trong ảnh không cần sửa), rồi tiếp tục chọn màu xanh lá cây đề giảm độ saturation của nó gần thành màu xám trung tính.

Bài viết bởi Xman @ vnphoto.net.
Theo VnPhoto.Net

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s